Gọi ngay
Chat với chúng tôi qua Zalo
Facebook Messenger
Đặt mua Thuốc trị ung thư (Nolvadex D Tab.20mg)

Bạn vui lòng nhập đúng số điện thoại để chúng tôi sẽ gọi xác nhận đơn hàng trước khi giao hàng. Xin cảm ơn!

Thuốc trị ung thư (Nolvadex D Tab.20mg)

Giá : đ

 

Mua ngay Gọi điện xác nhận và giao hàng tận nơi

Địa điểm mua hàng

  • Cam kết thuốc chính hãng, giá tốt
  • Đổi trả hàng trong 15 ngày
  • Giao hàng toàn quốc, nhận hàng → trả tiền
  • Dược sĩ giỏi tư vấn trực tiếp

HOẠT CHẤT

Tamoxifen

THÀNH PHẦN

Tamoxifen citrate 20 mg
Tá dược: Lactose, tinh bột bắp, gelatin, croscarmellose natri týp A, magiê stearate, methyl hydroxypropylcellulose, macrogol 300, titan dioxit.

Dược lực và cơ chế tác dụng:
Nolvadex (tamoxifen) thuộc nhóm triphenylene, không steroid có tác động kết hợp của các tác dụng dược lý tương tự chất đồng vận oestrogen và đối kháng oestrogen ở các mô khác nhau. Ở bệnh nhân ung thư vú, tại khối u tamoxifen tác động chủ yếu như một chất kháng oestrogen, ngăn chặn oestrogen gắn kết vào thụ thể oestrogen. Tuy nhiên, các nghiên cứu lâm sàng cho thấy thuốc cũng có tác dụng có lợi trên các bướu không có thụ thể oestrogen. Điều này cho thấy Nolvadex còn có cơ chế tác động khác. Trên lâm sàng người ta nhận thấy tamoxifen làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần và LDL trong máu khoảng 10-20% ở phụ nữ trong thời kỳ hậu mãn kinh. Hơn nữa tamoxifen được ghi nhận là duy trì mật độ khoáng của xương ở phụ nữ trong thời kỳ hậu mãn kinh.
Dược động học
Sau khi uống, Nolvadex được hấp thu nhanh với nồng độ tối đa trong huyết thanh đạt được trong vòng 4-7 giờ. Nồng độ ở trạng thái hằng định (khoảng 300 ng/ml) đạt được sau 4 tuần điều trị với liều 40mg mỗi ngày. Thuốc gắn kết mạnh với albumin huyết thanh (> 99%). Chuyển hoá bằng cách hydroxy hoá, demethyl hoá và liên hợp, tạo thành những chất chuyển hoá có tác động dược lý tương tự với hợp chất gốc và góp phần vào tác động điều trị. Đào thải chủ yếu qua phân, thời gian bán thải khoảng 7 ngày đối với tamoxifen và 14 ngày đối với chất chuyển hóa chính trong tuần hoàn, N-desmethyltamoxifen.
An toàn tiền lâm sàng
Tamoxifen không gây đột biến trong các thử nghiệm gây đột biến in vitro và in vivo. Tamoxifen không gây độc cho gen trong vài thử nghiệm in vitro và các thử nghiệm gây độc tính trên gen ở loài gậm nhấm. U tuyến sinh dục ở chuột nhắt và u gan ở chuột cống dùng tamoxifen được ghi nhận trong các nghiên cứu dài hạn. Ý nghĩa lâm sàng của những dấu hiệu này chưa được xác định.

CÔNG DỤNG – CHỈ ĐỊNH

Nolvadex đươc chỉ định trong điều trị ung thư vú.

CÁCH DÙNG – LIỀU DÙNG

Người lớn (kể cả người cao tuổi): Liều dùng mỗi ngày trong khoảng từ 20 đến 40mg, uống một lần duy nhất hoặc chia làm hai lần.
Trẻ em: không áp dụng.

QUÁ LIỀU

Theo lý thuyết việc dùng quá liều làm tăng các tác động dược lý được nêu trên. Các quan sát thực nghiệm trên động vật cho thấy với liều cao (100-200 lần so với liều dùng hàng ngày), Nolvadex gây ra các tác dụng oestrogen.
Hiện không có thuốc giải độc đặc hiệu dùng cho trường hợp quá liều và biện pháp xử trí là điều trị triệu chứng.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Phụ nữ có thai: Nolvadex không được dùng trong thời gian mang thai. Một số ít trường hợp sẩy thai tự nhiên, khuyết tật thai và thai lưu đã được ghi nhận ở phụ nữ có thai dùng Nolvadex, mặc dù mối quan hệ nhân quả chưa được xác lập. (xem “Lúc có thai và Lúc nuôi con bú”).
Không dùng Nolvadex cho những bệnh nhân nhạy cảm với thuốc hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN

Tác dụng phụ của Nolvadex có thể phân loại theo tác động dược lý của thuốc như nóng bừng mặt, xuất huyết âm đạo, tiết dịch âm đạo, ngứa âm hộ và phản ứng da xung quanh bướu hay theo tác dụng ngoại ý thường gặp như rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, chóng mặt và ít gặp hơn là ứ dịch cơ thể và rụng tóc.
Khi các tác dụng phụ này nặng, có thể xử trí bằng cách giảm liều (trong khoảng liều chỉ định) mà không ảnh hưởng đến việc kiểm soát bệnh.
Nổi mẩn ở da kể cả ban đỏ đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson, dạng pemphigut bọng nước và các phản ứng quá mẫn hiếm gặp, kể cả phù mạch cũng được ghi nhận.
Một số ít trường hợp bệnh nhân di căn xương bị tăng canxi trong máu khi bắt đầu điều trị.
Hiện tượng giảm tiểu cầu, thường chỉ giảm đến 80.000-90.000/mm3, đôi khi thấp hơn, được ghi nhận ở bệnh nhân ung thư vú điều trị bằng Nolvadex.
Một số trường hợp rối loạn thị giác, bao gồm thay đổi bất thường ở giác mạc và bệnh võng mạc được ghi nhận ở những bệnh nhân điều trị bằng Nolvadex. Hiện tượng tăng tần suất bệnh đục thủy tinh thể được ghi nhận có liên quan đến việc dùng Nolvadex.
U xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và những thay đổi nội mạc khác kể cả tăng sản và polip cũng được ghi nhận.
U nang buồng trứng đôi khi quan sát thấy ở những bệnh nhân tiền mãn kinh dùng Nolvadex.
Sự gia tăng tần suất ung thư nội mạc tử cung và sarcôm tử cung (hầu hết ở dạng u Mullarian thể hỗn hợp ác tính) có liên quan đến điều trị bằng Nolvadex.
Hiện tượng giảm bạch cầu quan sát thấy sau khi dùng Nolvadex, thỉnh thoảng có liên quan đến tình trạng thiếu máu và/hoặc giảm tiểu cầu. Giảm bạch cầu trung tính được ghi nhận ở một số hiếm trường hợp; đôi khi có thể trở nên trầm trọng.
Tăng tần suất tắt mạch do huyết khối kể cả huyết khối tĩnh mạch sâu và nghẽn mạch phổi xảy ra khi điều trị bằng Nolvadex.
Rất hiếm các trường hợp viêm phổi mô kẽ đã được ghi nhận.
Khi dùng Nolvadex chung với các chất gây độc tế bào, nguy cơ của tình trạng tắc mạch do huyết khối có thể tăng.
Nolvadex làm thay đổi nồng độ men gan và trong một số hiếm trường hợp xảy ra tình trạng bất thường ở gan trầm trọng hơn kể cả gan nhiễm mỡ, ứ mật và viêm gan.
Hiếm gặp hiện tượng tăng nồng độ triglyceride huyết thanh, trong vài trường hợp xảy ra viêm tụy do dùng Nolvadex.

THẬN TRỌNG

Trong khi điều trị Nolvadex, một số trường hợp bệnh nhân ung thư vú ở giai đoạn tiền mãn kinh có thể bị mất kinh.
Sự gia tăng tần suất ung thư nội mạc tử cung và sarcôm tử cung (hầu hết ở dạng u Mullarian thể hỗn hợp ác tính) đã được ghi nhận là có liên quan đến việc điều trị bằng Nolvadex. Cơ chế chưa được biết nhưng có thể liên quan đến đặc tính giống oestrogen của Nolvadex. Cần theo dõi ngay các bệnh nhân đã và đang dùng Nolvadex có các triệu chứng phụ khoa bất thường, đặc biệt là xuất huyết âm đạo.
Một số khối u tiên phát thứ hai xuất hiện ngoài nội mạc tử cung và vú đối diện đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân ung thư vú sau điều trị bằng tamoxifen. Mối quan hệ nhân quả vẫn chưa được xác lập và tầm quan trọng về mặt lâm sàng của các quan sát này vẫn chưa rõ ràng.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy :
Chưa có bằng chứng cho thấy Nolvadex làm suy giảm các hoạt động này.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Lúc có thai:Nolvadex không được sử dụng trong thời gian mang thai. Một số ít trường hợp như sẩy thai tự nhiên, khuyết tật thai và thai lưu đã được ghi nhận ở phụ nữ có thai dùng Nolvadex, mặc dù mối quan hệ nhân quả chưa được xác lập.
Các nghiên cứu độc tính trên hệ sinh sản ở chuột, thỏ và khỉ cho thấy Nolvadex không có tiềm năng gây quái thai.
Đối với sự phát triển hệ sinh sản của bào thai ở loài gậm nhấm, tamoxifen liên quan đến những thay đổi tương tự với những thay đổi do oestradiol, ethynyl-oestradiol, clomiphene và diethylstilboestrol (DES) gây ra. Mặc dù mối liên quan về mặt lâm sàng của những thay đổi này chưa được biết, nhưng một vài thay đổi, đặt biệt là sự phát triển bất thường biểu mô tuyến trong âm đạo tương tự với những thay đổi ở phụ nữ trẻ dùng DES ở tử cung và những bệnh nhân có 1/1000 nguy cơ ung thư tế bào sáng ở âm đạo hoặc cổ tử cung. Chỉ một số nhỏ bệnh nhân là phụ nữ có thai dùng tamoxifen. Ở những bệnh nhân nữ trẻ tuổi dùng tamoxifen này, không ghi nhận bất cứ sự phát triển bất thường biểu mô tuyến trong âm đạo hoặc ung thư tế bào sáng ở âm đạo hoặc ở cổ tử cung.
Bệnh nhân nữ không nên có thai trong khi đang điều trị bằng Nolvadex và nên sử dụng biện pháp tránh thai không hormon hoặc dạng vách ngăn. Bệnh nhân tiền mãn kinh cần được khám nghiệm cẩn thận để loại trừ khả năng có thai trước khi điều trị. Nên thông báo cho bệnh nhân về mối nguy cơ tiềm ẩn đối với bào thai nếu có thai trong khi điều trị bằng Nolvadex hoặc trong vòng 2 tháng sau khi ngưng điều trị.
Lúc nuôi con bú :
Tuy chưa xác định rõ Nolvadex có bài tiết qua sữa mẹ hay không, người ta vẫn khuyến cáo không dùng Nolvadex trong thời kỳ cho con bú. Sự quyết định ngưng cho con bú hoặc ngưng dùng thuốc nên tùy thuộc vào mức độ quan trọng của việc dùng thuốc đối với người mẹ.

TƯƠNG TÁC

Dùng chung Nolvadex với các thuốc kháng đông máu loại coumarin có thể làm tăng đáng kể tác dụng chống đông máu. Khi bắt đầu dùng kết hợp thuốc như thế nên theo dõi bệnh nhân cẩn thận.
Dùng chung Nolvadex với các chất gây độc tế bào có thể làm tăng nguy cơ tắt mạch do huyết khối (xem Tác dụng ngoại ý).
Do Nolvadex được chuyển hóa qua hệ thống men Cytochrome P450 3A4, nên khi dùng chung với các thuốc như rifampicin gây cảm ứng men thì cần thận trọng vì nồng độ tamoxifen có thể bị giảm. Mối liên quan trên lâm sàng của tương tác này vẫn chưa rõ.

BẢO QUẢN

Không bảo quản trên 30°C. Tránh ánh sáng. Bảo quản trong bao bì gốc.

QUY CÁCH ĐÓNG GÓI

Hộp 30 viên x 20mg

NHÀ SẢN XUẤT

Astrazeneca – Singapor

error: Content is protected !!
bản đồ nhà trọ">